Đảng ủy - HĐND - UBND - UBMTTQ VN và Nhân dân xã Thuận Lợi luôn nêu cao tinh thần Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển!

PHÚ RIỀNG ĐỎ: KỲ 4_CUỘC ĐẤU TRANH NĂM 1930

Thứ ba - 27/10/2026 14:21  76 Lượt xem
  • Xem với cỡ chữ 
  •  
  •  
  •  
(Theo Sách: Trần Tử Bình - Từ Phú Riềng Đỏ Đến Mùa Thu Hà Nội_Nhiều tác giả)
Từ trước Tết năm Canh Ngọ (1930), chi bộ Phú Riềng đã chuẩn bị điều kiện vật chất, điều kiện tinh thần cho cuộc bãi công lớn sắp tới.

Xem trong Báo Uy-ma-ni-tê, chi bộ thấy vấn đề lương thực trong các cuộc bãi công của thợ thuyền Pháp rất được chú trọng. Học tập kinh nghiệm ấy, trước khi bãi công nổ ra, chi bộ đã chú ý bàn, giải quyết vấn đề lương thực. Để chuẩn bị đủ lương ăn, đề phòng cuộc bãi công kéo dài, các đoàn viên nghiệp đoàn được lệnh trữ gạo, trữ muối, trữ cá khô. Làng nào, làng ấy đều cử người vào rừng, chọn chỗ kín đáo làm lán dấu gạo, cá và muối. Lán phải đảm bảo mưa không dột, chuột bọ không đục khoét. Ngoài ra lại phải giữ sao không lọt vào tai mắt bọn cai, bọn tay sai mật thám của chủ đồn điền. Công việc trữ lương làm dần hàng tháng trời, mỗi ngày một ít. Chi bộ còn giao một bộ phận của Xích vệ đội nhiệm vụ: khi cuộc bãi công nổ ra phải tìm cách chiếm lấy kho gạo của đồn điền, rồi chuyển lên rừng cất giấu. 

3
Bữa ăn đạm bạc của phuu cao su thời Pháp thuộc

Về vũ khí cũng phải gấp rút chuẩn bị. Anh em tổ rèn trong xưởng cơ khí thuộc ga-ra dùng díp ô tô đánh cho công nhân một số dao găm, dao bảy. Những ai có búa nguyệt phải mài luôn cho bén. Và tất cả đều phải sửa soạn mỗi người một đoạn gậy, hai bó đuốc. 

Chi bộ và Ban Chấp hành Nghiệp đoàn họp nhiều lần để bàn về mục đích cuộc đấu tranh. Lúc bấy giờ, công nhân Phú Riềng có yêu cầu chung nhưng từng làng lại có yêu cầu riêng. Với công nhân đồn điền, cuộc đấu tranh nhằm đòi hỏi những quyền lợi sau đây: 

  • Cấm đánh đập. 

  • Cấm cúp phạt. 

  • Miễn sưu thuế. 

  • Trả lương cho nữ công nhân nghỉ đẻ. 

  • Ngày làm 8 giờ kể cả thời gian đi săng-chi-ê và về lán. 

  • Bồi thường cho công nhân bị tai nạn lao động. 

    • Quan lớn tốt, quan lớn thưởng tiền sao anh em không lấy? 

    • Ngày tết anh em múa lân cho vui làng vui xóm thôi! 

    • Năm mới, quan lớn chúc anh em làm lụng khoẻ, quan lớn sẽ tăng lương! 

    • Hôm nay là ngày Tết, quan lớn chúc anh em làm khỏe, anh em xin cảm ơn! Về phần anh em cũng xin chúc quan lớn năm nay tốt hơn nữa với anh em. Quan lớn bảo cai ký đừng cúp lương, phạt lương, đừng đánh đập anh em. Ai chửa đẻ, quan lớn phát gạo cho người ta mẹ tròn con vuông. Quan lớn đừng thu thuế thân của anh em. Ba năm anh em làm trong đồn điền rồi, anh em hết hạn công-tờ-ra thì quan lớn cho anh em về với bố mẹ, vợ con, làng xóm quê hương. Quan lớn tốt, quan lớn xin chính phủ thả ông Trần Văn Cung ra vì xét cho cùng ông Cung chẳng có gì đáng buộc tội cả. Ngày Xuân, năm hết Tết đến, anh em biết sao nói vậy, nghĩ gì chúc nấy. Quan lớn tốt quan lớn làm cho anh em... 

    • Đứng lại ngay! Chúng mày làm loạn đấy à? 

    • Phải nghe quan lớn! Tất cả giải tán ngay, không quan lớn bắn! 

    • Thôi thôi, đừng đánh quan lớn! Quan lớn không bắn nữa!  

Thêm vào đó là khẩu hiệu chính trị: “Đòi thả anh Trần Văn Cung”. Đó là yêu sách chung của toàn thể công nhân trong đồn điền. Riêng đối với anh em làng số 1, 2 và 3 là lớp công nhân cùng vào một đợt với tôi, có thêm một yêu sách: Những người đã sống sót qua ba năm ở Phú Riềng, bây giờ sắp hết hạn công-tờ-ra, phải được trả về quê quán. Tiền tàu xe và mọi phí tổn do chủ phải chịu. Điều đó rất hợp lẽ, hợp tình. 

1
Chờ nhận cấp gạo muối

Bấy giờ ở đồn điền còn một số đồng bào Thượng bị bọn Tây bắt đến làm xâu. Bọn Tây đối xử với họ tàn tệ vô cùng. Họ chỉ được phát gạo và cá khô, còn lương thì không có. Chúng tôi thường phải giúp đỡ bà con chữa bệnh giun sán, sốt rét, nên tình cảm giữa đôi bên khá mật thiết. Hơn nữa, tôi đã kết nghĩa bà con với cụ già cao tuổi nhất trong làng. Cuộc bãi công sắp tới của chúng tôi nhất thiết cần được sự hưởng ứng giúp đỡ của đồng bào. Chúng tôi bàn chuyện trước với họ. Đồng bào hiểu ngay, họ nói: “Phải đấy, “ông lớn” bắt người Mọi đi xâu quanh năm ngày tháng nên không phát được cái rẫy. “Ông lớn” lại không trả tiền. Đất của người Mọi thì “ông lớn” lấy hết cả. Bây giờ phải bảo “ông lớn” đừng bắt Mọi đi xâu nữa. “Ông lớn” trả đất cho người Mọi làm rẫy nuôi ông già, nuôi trẻ con". 

Người này nói với người kia. Cuối cùng, đồng bào hứa với bọn tôi nếu công nhân nghỉ việc đòi “ông lớn” trả tiền thêm thì họ cũng ở nhà không đến đồn điền làm nữa. Nếu công nhân trốn họ sẽ dẫn đường xuyên rừng mà đi. Nhân Tết âm lịch sắp tới, đồng bào nghỉ việc luôn. Họ hẹn chúng tôi báo tin thường ngày cho họ biết, nếu có gì xảy ra thì họ giúp. Thấy tình cảm của đồng bào đối với mình như vậy thì chúng tôi rất xúc động. Chúng tôi dặn họ đừng dẫn đường cho Tây, đừng đi lính dõng cho chúng. Chiều 27 Tết, chúng tôi tiễn đồng bào lên đường. Họ đi ngay trong đêm về làng. 

Được đồng bào Thượng hưởng ứng, anh em chúng tôi rất sung sướng. Chúng tôi đấu tranh sẽ không cô độc. Khi gay go quá sẽ có chốn nương tựa. Từ đấy qua Hạ Lào, sang tận Xiêm. Cũng có người từng qua lại lối này nên thuộc đường, nếu cần sẽ trốn đi. 

Chỉ một buổi chiều, mấy trăm đồng bào Thượng bị Tây bắt đi xâu ở Phú Riềng đã về làng hết sạch, không còn một ai. Chính vì vậy, bọn chủ đồn điền không kiếm ra một công lao động thay thế nào khi cuộc bãi công của chúng tôi nổ ra. 

Đêm 28 Tết, Ban Chấp hành Nghiệp đoàn cao su Phú Riềng chấp hành chỉ thị của chi bộ Đảng triệu tập một cuộc hội nghị đại biểu của năm làng công nhân ở ngoài rừng. Anh em đi họp đông đủ. Cuộc họp tiến hành bí mật nhưng rất sôi nổi. Trời rét căm căm, tối đen như mực, mấy ngọn đuốc đốt lên chỉ đủ soi tỏ và sưởi ấm một khoảng rừng nhỏ xa làng, xa lán. Các đại biểu ngồi túm tụm, co ro vì rét, nhưng cứ nhìn những ánh mắt long lanh, nghe giọng nói sôi nổi thì cũng đủ thấy sự hăm hở của cả Phú Riềng. Những yêu sách do chi bộ đề ra được đại hội đại biểu tán thành. Các đại biểu nhận nhiệm vụ trở về làng chuẩn bị gấp rút thêm những phần việc còn dở dang. 

Không khí các làng công nhân bấy giờ sôi nổi. Mặc dù chi bộ chủ trương chỉ bãi công, nhưng anh em chuẩn bị vũ khí rất tích cực, tưởng như chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa. Điều đó có mặt tốt, nhưng cũng có mặt không tốt. Chúng tôi có khuyết điểm là không uốn nắn kịp thời hiện tượng trên. Nhưng thú thực trong thâm tâm, chúng tôi cảm thấy rất hào hứng trước không khí sôi sục ấy. Cả rừng su như nổi bão đến nơi. Những ai đã phải chứng kiến cảnh công nhân chúng tôi từ bao năm trời nay cắn răng chịu đựng quần quại dưới sự hà hiếp, chà đạp của giặc thì lúc này đây, thấy anh em chúng tôi đang vận mình đứng dậy, chắc họ cũng không khỏi có những cảm giác như chúng tôi. 

Báo chí công khai bấy giờ đăng tin cuộc bãi công của chúng tôi bắt đầu vào ngày mùng 3 tháng 2 năm 1930, tức là mùng năm tháng giêng năm Canh Ngọ. Thực ra, cuộc đấu tranh bắt đầu ngay từ ngày mùng một Tết, tức là vào ngày 30 tháng giêng năm 1930. 

Trước đấy mấy ngày, chủ nhất Su-ma-nhắc đã đánh hơi thấy sắp có chuyện xảy ra. Vì thực ra, anh em chúng tôi chưa có kinh nghiệm nên công việc sửa soạn, chuẩn bị làm khá lộ liễu. Su-ma-nhắc cho tay chân nhắn với công nhân rằng đến sáng mùng một lên chúc Tết, Su-ma-nhắc sẽ thưởng tiền cho mọi người. Ý nó muốn xoa dịu, dùng không khí vui vẻ ngày Tết để mua chuộc chúng tôi. Chúng tôi cũng nhờ bọn tay chân của chủ nhất đánh tiếng với Su-ma-nhắc rằng: Sáng mùng một, chúng tôi sẽ lên chúc tết ông chủ. 

Đến sáng mùng một, chúng tôi có mặt đông đủ. Từ sớm, công nhân các làng theo sự chỉ huy của các tiểu đội trưởng Xích vệ xếp hàng kéo nhau lên boong-ga-lô của Su-ma-nhắc. Anh em kéo đi rầm rập, có tổ chức. Hết làng này đến làng kia, không ồn ào, không chen lấn. Trong tay mỗi người lăm lăm cầm một cây gậy. 

Theo đúng tập tục của Phú Riềng, những Tết năm trước, đội lân của chúng tôi đi đầu. Anh em trong đội lân toàn những tay chiến, được chọn lọc ở Xích vệ đội. Người nào đầu cũng buộc khăn đỏ, áo đỏ, quần xanh, thắt dây lưng bỏ múi. Ai nấy đều cầm côn, cầm búa đi hai bên hộ vệ cho người múa lân. Đoàn người càng đi càng kéo dài thêm ra. Cứ qua một làng lại đông thêm vài trăm con người. Cuối cùng, năm nghìn công nhân của cả đồn điền Phú Riềng đều kéo đến trước sân nhà của Su-ma-nhắc. 

Thằng này biết có chuyện nhưng vẫn làm gan, đứng ra đón anh em từ ngoài thềm. Mặt nó vẫn nhơn nhơn, miệng phì phèo điếu thuốc lá ngậm lệch, nhưng cứ nom tròng con mắt xanh lè nhớn nhác đảo quanh thì cũng biết là bụng nó đang chờn. Anh em chúng tôi đông đúc với khí thế khác hẳn mọi năm. 

Theo đúng kế hoạch, công nhân vây quanh sân, ngồi trật tự xem đội lân múa. Đội lân múa đủ các kiểu. Con lân to gần bằng cả tấm phản do anh em tự thửa lấy, đuôi chập mấy khổ vải đỏ lại làm một, chồm ra giữa sân. Thật là khí thế. Lân giỡn cầu, lân giỡn với tay kiếm, tay côn. Những tay kiếm, tay côn hôm nay tung hoành ngang dọc mặc sức. Những miếng gậy, thế võ học được, anh em giở ra múa thỏa chí. Thỉnh thoảng kiếm côn lại choang vào đầu lân đánh “bụp” làm dậy lên những tiếng cười reo, thích thú trong đám người xem vây kín chung quanh. Tiếng trống, tiếng thanh la nổi vang rừng cao su rồi vọng lại không dứt. 

Thấy bọn tôi không làm giữ, Su-ma-nhắc đâm bạo dạn, xuống hẳn mấy bực thềm. Chắc hắn vừa uống no rượu nên mặt đỏ như gà chọi, dáng đi loạng choạng chực ngã. Hắn nhổ điếu thuốc lá, nhếch mồm cười với anh em. Chúng tôi giả tảng không để ý, cứ chú mục xem múa lân. 

Su-ma-nhắc giở thủ đoạn mấy năm cũ. Nó gọi bọn tay chân mang đến mấy két hào bạc rồi bốc tung hê ra sân. Nó tưởng như mọi năm, công nhân sẽ ùa nhau vào tranh cướp, bày trò cười cho nó khinh bỉ đứng xem. Nhưng năm nay, sự việc diễn ra khiến nó vừa tức vừa sợ lại vừa bẽ mặt. Hào một, hào đôi, năm xu kền mặc sức lăn boong vào chân công nhân, nằm trắng xoá trên mặt đất, nhưng không một ai buồn nhặt. 

Đội lân vẫn cứ múa. Lân diễu võ dương oai, khác hẳn lối múa năm trước. Nó không phủ phục xuống lễ, không liếm đất, không bái lạy khuất phục. Trái lại như một chúa sơn lâm hùng dũng giỡn với võ sĩ đánh gậy. Giỡn chán, lân xoay mặt hướng về bốn phía công nhân mà vờn. Bọn tôi sướng quá la lên khen ngợi. Thôi thì cười, nói ầm ĩ, choang choang. 

Cuối cùng lân vượt ngang sân giẫm chân lên xu, hào rơi trắng xóa mặt đất, tiến lên thềm boong-ga-lô tung râu cước trắng, lắc đầu quậy quậy ra oai như muốn thách thức. Trông mặt Su-ma-nhắc cũng biết hắn đang tức lộn ruột. Anh em công nhân thì khoái trá. Su-ma-nhắc khoát tay khoát chân ra hiệu cho đám lân ngừng lại rồi sai thông ngôn hỏi chúng tôi: 

Anh em đã cử sẵn người đứng lên trả lời: 

Xu-ma-nhắc cười nhạt chúc tết bọn tôi: 

Bấy giờ theo đúng kế hoạch định trước, đồng chí Hồng, đồng chí Tạ và tôi thay mặt anh em “chúc Tết” lại chủ: 

Bọn tôi cứ nửa nạc nửa mỡ đưa những yêu sách dưới hình thức chúc Tết khiến Su-ma-nhắc tức điên người mà chẳng làm gì được. Hắn ừ ào hứa sẽ xét. Sau đó, chúng tôi lại nổi trống múa lân một hồi rồi rầm rộ ra về. Bỏ lại sân nhà Su-ma-nhắc trắng xoá bạc, hào. Chủ nhất sợ quá và cũng bẽ mặt quá! Chưa bao giờ nó lại thấy một cảnh “chúc Tết" như thế. Đòn thị uy ra quân của chúng tôi đã thắng, nhất là về mặt tinh thần. Anh em ra về cười nói râm ran, có người giả cách nhại lại bộ mặt chưng hửng dài thượt của Su-ma-nhắc khi thấy chúng tôi chẳng một ai tranh cướp tiền bạc tung hê của hắn. Anh em cũng nhắc lại những yêu sách của chúng tôi qua hình thức “chúc Tết” nửa nạc nửa mỡ ấy, rồi bàn bạc tranh cãi sôi nổi. 

Trong ba ngày Tết được nghỉ, theo đúng chủ trương của chi bộ, Nghiệp đoàn tăng cường hoạt động để gắn bó công nhân chặt chẽ hơn. Ban ngày, anh em qua lại thăm hỏi nhau nườm nượp, chiều và trưa làm cơm nước ăn chung với nhau. Tối đến trống chèo, trống lân nổi lên, bà con lại kéo nhau đến dự rất đông. Tranh thủ trước khi mở màn, đại biểu Nghiệp đoàn lên nói chuyện với công nhân. Nội dung nói chuyện là: “Tại sao đời ta khổ cực? Chúng ta phải đồng tâm hiệp lực thế nào để đòi được quyền sống?”. Chúng tôi trương cờ búa liềm lên. Đây là lần đầu tiên, lá cờ ra mắt công khai trước đông đảo bà con trong đồn điền. Anh em công nhân trầm trồ nhìn ngắm lá cờ. Màu cờ đỏ rực như bầu máu nóng sôi sục của anh em lúc bấy giờ. Chiếc búa và lưỡi liềm vàng đặt trên cờ, chính là những vật dụng hàng ngày của anh em rồi. Đó chính là lá cờ của những người vô sản. 

Cuộc nói chuyện và những hoạt động khác của chi bộ, của Nghiệp đoàn đã tác dụng rất lớn đến tinh thần đấu tranh của công nhân. Tình đoàn kết tăng thêm, anh em nhận thấy nếu đoàn kết chặt chẽ thì họ trở thành một lực lượng to lớn. 

Bọn chủ không phải không đánh hơi thấy. Chúng tung bọn tay chân xuống bám sát dò tin. Nhưng mấy thằng mật thám bị thanh niên Xích vệ đội tóm được; gán cho chúng đủ thứ tội ăn cắp, tán gái, phá đám để có cớ mà đánh một trận nhừ tử. 

Lúc bấy giờ ở làng số 2 có một đoàn viên nghiệp đoàn ốm chết. Anh em chúng tôi tổ chức đi đưa ma người xấu số rất đông. Lợi dụng đám đông tụ họp, Nghiệp đoàn cử người nói mấy lời từ biệt với kẻ đã khuất, nêu lên câu hỏi: Vì sao anh ốm chết? Bọn Tây thấy nguy, định cản trở và giải tán đám tang. Nhưng bọn tôi không chịu, cuối cùng chúng phải để chúng tôi tiếp tục công việc. 

Qua ba ngày Tết, Nghiệp đoàn thông báo lệnh bãi công cho anh em. Nghiệp đoàn dặn dò: Đâu cứ ở đó đến bao giờ bọn chủ chịu giải quyết những yêu sách của mình, Ban Chấp hành Nghiệp đoàn thông báo, anh em hãy đi làm. Tất cả đều nghe theo răm rắp. 

Sáng mùng ba Tết, bọn Tây rúc còi mỏi mồm nhưng công nhân không ra điểm danh, chỉ trừ vài thằng tay sai lẻ tẻ tuân theo hiệu gọi của chúng. Bọn cai Tây sục sạo định thức anh em đi làm nhưng đến đâu chúng cũng bắt gặp những ánh mắt quyết liệt. Chúng đâm sợ rút cả về nhà chủ nhất và thả tay chân đi dò la. 

Lúc bấy giờ có một thằng mật thám, quê ở Bắc Ninh, làm y tá ở làng số 2. Thằng này đang lởn vởn nghe ngóng bị anh Lự bắt gặp. Anh Lự làm cai nhưng đứng về phía công nhân. Anh to lớn, tính nóng như lửa, đấu tranh rất hăng. Bắt gặp tên mật thám đang nghe ngóng, anh Lự nện luôn. Thằng này vùng bỏ chạy, lập tức Lự đuổi theo. Thằng mật thám bị Lự đuổi tới tận sân nhà chủ nhất. Bọn cai Tây thấy động ùa cả ra. Chúng túm lấy Lự, vu cho tội ăn trộm rồi giam lại. 

Ở nhà, anh em được tin bèn thông báo cho các làng khác. Lập tức, làn sóng căm phẫn ầm ầm trào dâng. Tất cả mấy nghìn công nhân đùng đùng kéo lên sở. Anh em hò la đòi thả ngay anh Lự. Những yêu sách đã đề ra từ hôm mùng một Tết mà chủ nhất đã ừ ào hứa sẽ xét lúc này cũng được nhắc đi nhắc lại. 

Su-ma-nhắc đóng cửa, không dám ra. Anh em vây vòng trong vòng ngoài, hò la rầm trời. Suốt chiều hôm ấy, qua một đêm, đến sáng hôm sau (mùng bốn Tết) anh em vẫn không lơi lỏng hàng ngũ. Đội Xích vệ cắt người canh gác. Còn lại đều nằm ngay sân đồn điền ngủ để giữ sức. Các làng số 9, số 10 ở xa nên mãi tới tám giờ sáng mới kéo đến. Có thêm sinh lực, tinh thần đấu tranh của anh em càng hăng. Tin đấu tranh lan đi, các kíp chặt củi, phát hoang ở xa hơn cũng bỏ việc kéo cả về. Tiếng trống đổ hồi thúc vang, truyền từ làng này sang làng khác gọi những anh em còn sót lại ở nhà cùng lên bàn giấy chủ nhất luôn thể. 

2
Tư bản đồn điền sử dụng binh lính đàn áp phong trào công nhân.

Bão đã nổi dậy ở Phú Riềng! 

Năm nghìn công nhân lao khổ đã đứng lên. Tất cả vây tròn lấy dãy dinh cơ nhà trại của bọn chủ, chốc chốc lại hò la đòi chúng phải thoả mãn các yêu sách đã đề ra. Không khí đấu tranh sôi sục khiến cho Su-ma-nhắc sợ xanh mắt. Nó chèn kỹ các cửa và lén gọi điện thoại cho đồn binh Phú Riềng mang lính đến giải vây. 

Chính quyền thực dân nhận được tin của Su-ma-nhắc cũng hoảng hốt chẳng kém. Tên đồn trưởng vội vã tìm cách trấn áp công nhân. Mười giờ sáng, một thằng đội Tây dẫn 25 lính khố đỏ tiến vào khu vực đồn điền. Lúc ấy có một toán anh em ở các làng số 2, số 3 mới thu xếp xong việc để lên sở đấu tranh. Bọn lính định ngăn đoàn biểu tình lại, giải tán họ trước khi tiến vào đàn áp số anh em đang vây Su-ma-nhắc. Thằng đội Tây giơ súng lục doạ: 

Đoàn biểu tình có một tốp phụ nữ đi đầu cứ tiến lên. Thằng Tây hô tiếp: 

Nhưng chẳng ai đếm xỉa đến lời doạ dẫm ấy. Họ cứ rầm rập xông thẳng đến, khí thế mạnh mẽ khác thường. Thằng Tây hô lính bắn chỉ thiên để dọa. Nghe tiếng súng, hăng lên, anh chị em trong đó có khá nhiều đội viên Xích vệ sấn ngay vào. Người thì bốc cát ném vào mặt bọn lính, làm cho chúng không mở nổi mắt ra, người thì dùng gậy đánh nhau với bọn chúng. Có chị rất hăng, quơ tay ôm ngang lưng lính mà vật nó ngã kềnh rồi cướp lấy súng. Thằng đội Tây giơ súng chĩa thẳng vào đoàn người định bắn, nhưng một đội viên Xích vệ nhảy ngay tới nện cho nó một cán cuốc gẫy tay. Nó la om lên: 

Thế là những thằng còn lại ù té kéo nhau bỏ chạy. Quần áo tơi tả, chúng chạy như vịt ra xe hơi, chuồn thẳng về Sài Gòn. Anh em ta tước được bảy khẩu súng trận và bắt sống năm tù binh. Họ giải mấy thằng lính bị bắt và vác súng lên sở. 

Tin lính đồn bị thua lập tức được truyền đi. Anh em hò reo sung sướng. Hăng lên, nhiều người xông thẳng đến tòa nhà mà bọn chủ đang nấp, đập cửa rầm rầm. Su-ma-nhắc sợ quá phải mở cửa điều đình. Chúng tôi cử anh Hồng, anh Tạ làm đại diện, tôi được anh em yêu cầu tránh mặt. Hai đồng chí Hồng và Tạ đưa yêu sách đã định từ trước. Nói điều nào Su-ma-nhắc nhận ngay điều ấy, không dám chần chừ. Biên bản được ký ngay, một bên là đại biểu công nhân, một bên là Su-ma-nhắc - đại diện bọn chủ. Các đại biểu giơ cao tờ biên bản báo cáo kết quả điều đình thắng lợi với anh em công nhân. Tiếng res hò ầm vang khắp ngả, nhiều người nhảy lên mà hô. Trước cảnh tượng ấy, bọn chủ cúp đầu cúp tai nấp kín trong nhà, không dám ho he một tiếng. 

Cuộc đấu tranh đã thắng lợi bước đầu. Bọn chủ đã phải chấp nhận toàn bộ yêu sách của công nhân. Kinh nghiệm đấu tranh của chúng tôi hồi ấy cũng chỉ giúp hành động đến mức ấy. Nghiệp đoàn ra lệnh cho anh em giải tán. Tất cả anh em công nhân phấn khởi tràn trề, rầm rộ kéo về các làng. 

Từ sở đồn điền của bọn chủ, chúng tôi tổ chức biểu tình tuần hành trong đồn điền. Các đồng chí đảng viên, các ủy viên Ban Chấp hành Nghiệp đoàn đi đầu. Liên kế là đoàn nữ công nhân gồm ba trăm chị em, cuối cùng là công nhân của cả mười làng. Anh em Xích vệ đội vác bảy khẩu súng tước được của lính và mười mấy khẩu súng chim tịch thu của sở đi hai bên để hộ vệ cho đoàn biểu tình. Chốc chốc họ lại nã “đoàng” một phát lên trời. 

Đoàn biểu tình vẫn đi. Anh em giương cờ búa liềm lên đầu, và hát vang bài Quốc tế ca: 

“Vùng lên, hỡi các nô lệ ở thế gian! Vùng lên, hỡi ai cực khổ bần hàn..." 

Phải, những người nô lệ bần hàn như chúng tôi đã vùng lên rồi! Mấy tay cai, ký lừng chừng xưa nay cũng xuống đường nhập bọn với chúng tôi. Hát xong Quốc tế ca, chúng tôi lại hoà lời hát bài cách mạng theo điệu Hành vân: 

“Cực quá rồi, các bạn thợ thuyền ơi! Chúng ta muốn sống phải quyết một phen, Phá khai con đường xích lộ Ta làm nó hưởng, Chịu sầu bi sống thảm đã lâu, Nỗi bất bình chịu hoài sao được. Thầy có Đảng, bạn có Nông. Họp sức đồng lòng, Trận này đánh đổ Cả quyền Tây, Nam Làm cho hết sứcSứ mạng thợ thuyền. Đạp đổ cường quyền, Cả năm châu, năm châuCuộc đời này phải phá cho ma Lập ra cuộc xã hội chủ nghĩa, Mới xong bình đẳng tự do”

Bọn chủ mấy hiệu tạp hóa, họ hàng dây mơ rễ má với tụi vợ Tây, sợ quá giở pháo ra đốt mừng để nịnh chúng tôi. Nhưng đoàn biểu tình không thèm để ý, cứ diễu hết làng này sang làng khác. Gặp bãi đất rộng nào cũng dừng lại. Một đồng chí trong chi bộ hoặc một đồng chí trong Ban Chấp hành Nghiệp đoàn chọn mô đất cao, đứng lên diễn thuyết. Bấy giờ lý luận cũng chưa có gì. Những điều người này vừa nói, lát nữa người khác nói lại. Ấy thế mà diễn giả lên nói đến khản cổ mà người nghe vẫn cứ say sưa không biết chán. 

Sau đó, chúng tôi kéo về làng số 3. Ở đây, bọn chủ có lập một nhà máy cưa khá lớn. Chung quanh nhà máy có hàng rào chắc chắn. Mấy tên xu-vây-dăng Tây hy vọng nếu trốn vào đấy sẽ thoát được cơn bão nổi lên dữ dội mấy ngày nay. Những tên xu-vây-dăng ta cũng theo gót chúng, ẩn cả vào đấy. 

Nhưng chúng không biết rằng ở đây phong trào công nhân rất mạnh. Người lãnh đạo làng 3 là đồng chí Doanh. Một số anh em đã được bố trí ngầm trong nhà máy cưa làm nội ứng. Khi đoàn biểu tình tuần hành kéo tới, bọn xu Tây hoảng sợ. Chúng có súng nhưng không dám bắn, sợ bắn thì cũng chết với quần chúng. Mấy thằng chạy ngược chạy xuôi trong nhà máy, gắt nhau ỏm tỏi. 

Đoàn người ào tới, hăng hái nhất là anh em thanh niên Xích vệ, trong đó có số đội viên của đồng chí Nguyễn Mạnh Hồng. Cổng nhà máy khóa chặt. Anh em nắm gióng cửa rung rầm rầm. Một số công kênh nhau leo qua rào. Cũng đúng lúc ấy, số anh em bí mật ở xưởng cưa đã lấy gỗ làm vũ khí, đập cho mấy thằng xu Tây một trận mê tơi. Có thằng bị què tay, sau phải vào nhà thương Sài Gòn. Một anh mở khóa cổng. Cửa bật tung ra và dòng người tràn vào nhà máy như thác đổ. Bọn Tây sợ quá giơ tay xin hàng. Chúng tôi tước luôn mười mấy khẩu súng, vừa súng trận vừa súng săn, rồi đàng hoàng lội trở về làng số 2. Ở đây còn ga-ra ôtô và nhà máy điện, nhà máy nước. Nhà máy nước khá lớn, có cả đài nước đổ bê tông cao chót vót. Chúng tôi ùa vào chiếm luôn. Thực ra chỗ này không có Tây canh giữ. 

Thế rồi anh em chia làm mấy cánh. Cánh thì đi chiếm vườn ươm cây. Ở vườn ươm có kho dụng cụ chứa khá nhiều búa nguyệt và dao dựa làm vũ khí. Cánh thì đi chiếm kho gạo. Chiếm xong kho gạo có thể coi như thắng lợi hoàn toàn. Anh em kéo cờ búa liềm, giơ súng, giơ búa vừa đi vừa hô khẩu hiệu. Chốc chốc lại hát một bài và điểm vài tiếng súng thị uy nổ cái “đòm”. Đến xế chiều, chúng tôi kéo về văn phòng sở. Đang lúc tinh thần hăng hái, anh em xông ngay vào chiếm luôn. 

Lúc này, cả đồn điền Phú Riềng đã thuộc về tay chúng tôi. Bọn chủ nhất, chủ nhì, cai sếp, cai Tây, thừa lúc chúng tôi ra về và tổ chức biểu tình tuần hành, đã len lén chuồn sạch. Nhà cửa, bàn giấy của chúng trống không. Bao nhiêu công-tờ-ra chúng tôi vác cả ra sân, nổi một đống lửa đốt. Anh em vứt cả biển phu vào đốt luôn. Nhìn ngọn lửa bốc cao, anh em tưởng thế là đã xóa sạch mọi dấu tích nô lệ, từ đây trở đi sẽ hoàn toàn tự do! Những phút phấn khởi này không thể nào quên! Sung sướng quá! 

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của tôi có ba thời điểm mà tôi phấn chấn nhất. Đó là ngày đấu tranh chiếm được chính quyền ở Phú Riềng, những ngày Cách mạng tháng Tám và những ngày kháng chiến thắng lợi. 

Lúc ấy, tôi chợt nhớ đến lời dạy của Mác: “Người vô sản đấu tranh nếu được là được cả thế gian, nếu mất chỉ mất cái xiềng nô lệ”. Quả là toàn bộ khu Phú Riềng rộng lớn đã vào tay chúng tôi. Điều đó khiến tôi và anh em say sưa, nhưng chưa lường hết khó khăn, chưa nhìn rộng ra tình hình cách mạng cả nước. Thú thực trình độ anh em ở Phú Riềng lúc bấy giờ không cho phép thấy rõ được điều đó. 

Say sưa! Đến tối mịt, mọi người mới sực nhớ từ sáng đến giờ chưa có hột cơm vào bụng. Thế là nổi đuốc lên, đoàn người theo các đồng chí lãnh đạo biểu tình kéo về kho lương thực. Vừa đi vừa hát, vừa hô khẩu hiệu vang cả rừng. Đến nơi, mở cửa kho lấy gạo, lấy cá ra. Bò của đồn điền vật luôn mấy con. Bộ phận nào làm cơm thì làm cơm. Đội chèo chuẩn bị tiết mục để diễn. 

Thế rồi cơm chín, thức ăn làm xong được bưng lên. Chúng tôi mở tiệc mừng Tết chiến thắng. Thật linh đình! Tiệc tan đến diễn chèo. Tối đó, anh em đội chèo diễn một vở rất hợp với tình đoàn kết của mấy nghìn công nhân cao su Phú Riềng bấy giờ - đó là tích “Đào Viên kết nghĩa”. Vở chèo nói về tình anh em kết nghĩa đồng sinh đồng tử của ba người: Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi thời Tam Quốc. Vì vậy, tích chèo được hoan nghênh nhiệt liệt. 

Tôi chỉ được nghe kể lại mà không được xem vì trong khi anh em đang vui say thì chi bộ nhóm họp. Cuộc họp đặc biệt này tiến hành trong một căn lều nhỏ ở sau làng số 3. Đến lúc này, xa bầu không khí sôi sục ở khu trung tâm đồn điền, không nghe thấy tiếng hô khẩu hiệu, tiếng súng bắn chỉ thiên, tiếng ca cách mạng, chi bộ mới có điều kiện bình tĩnh lại để nhận định tình hình một cách sáng suốt. 

Cuộc họp rất căng, tiến hành suốt đến sáng. Lúc bấy giờ có hai chủ trương trái ngược hẳn nhau: 

  •  

    • Một là nếu địch đem quân lên khủng bố thì đánh trả. Ta sẽ ngả cây chặn các nẻo đường vào đồn điền. Những nơi xung yếu quan trọng sẽ bố trí Xích vệ đội mang súng giữ. Còn bao nhiêu thì đảm nhiệm việc tuần phòng, canh gác kho lương, canh gác máy điện, máy nước. Chủ trương này trùng với tâm lý của đại đa số anh em công nhân lúc ấy. Ngay trong đêm, khi xem chèo về, anh chị em tự động chia nhau sắm sửa khí giới. Có người khâu những túi tro bếp để sẵn sàng ném vào mắt địch, có người tra lại cán búa cho chắc. Xích vệ đội thì dạy nhau bắn súng vì tuyệt đại đa số anh em chưa biết bắn cái súng ra làm sao. Họ nghĩ rất đơn giản và rất anh hùng: “Sống chết có cần gì! Mai nó lên ta cứ đánh. Đã đánh là đánh đến cùng". Tinh thần tấn công ấy thật đáng khâm phục. 

  •  

    • Chủ trương thứ hai bị thiểu số, trong đó có tôi. Tôi nói: "Đảng chưa chỉ thị cướp chính quyền. Nếu cướp, phải cướp cùng một lúc khắp mọi nơi trong cả nước. Như vậy, địch sẽ không cứu ứng được cho nhau. Bây giờ, Phú Riềng nổi dậy riêng rẽ, địch sẽ đem quân lên khủng bố đàn áp. Ta phải chuyển hướng đấu tranh để tránh tổn thất". 

Chủ trương thứ hai lúc mới đưa ra bị phản đối kịch liệt. Mấy anh em tôi ra sức thuyết phục phái chủ chiến. Chúng tôi nhấn mạnh đến việc bảo vệ lực lượng, bảo vệ đời sống và tính mệnh của năm nghìn con người ở Phú Riềng. Tôi nói: “Đế quốc và tàn bạo chỉ là một. Một khi đã tập trung được lực lượng, chúng sẽ chẳng ngần ngại gì mà không tiêu diệt cả năm nghìn con người trong tay hầu như không có vũ khí”. Tổn thất đau xót trong vụ bạo động giết tên Mông-tây năm trước cũng được nhắc lại. 

Lúc ấy phái chủ chiến cho rằng: chuyển hướng hành động là hèn nhát, sợ giặc. Phái đấu tranh với chủ trương quyết liều mạng với giặc một phen để tỏ tiết tháo anh hùng. Chúng tôi phải lấy sách cổ ra để giải thích: “Biết mình, biết người, trăm trận đánh, trăm trận thắng!” và “Người anh hùng phải biết tiến biết thoái, tiến có thể đánh, thoái có thể giữ...".

Trải qua gần một đêm đấu tranh nội bộ, cuối cùng chi bộ nhất trí chuyển hướng đấu tranh. Các đồng chí chia nhau đi các làng giải thích chủ trương mới. Lại một lần thuyết phục gay go nữa mới ổn. 

Chấp hành chỉ thị chi bộ, Xích vệ đội mang toàn bộ số súng tước được lên dựng một dãy ở tường nhà bàn giấy của chủ nhất. Nghiệp đoàn chuyển một số gạo, cá, muối, cất giấu ra ngoài rừng như đã bàn định từ trước, để phòng địch hãm lương. Công nhân thì giải tán, đâu về làng đó. Cuộc đấu tranh vẫn tiếp tục nhưng chúng tôi chỉ bãi công mà thôi. 

Để chủ trương mới thi hành được tốt, chúng tôi phải giải thích, thuyết phục rồi huấn luyện anh em cách đấu tranh hợp pháp với đế quốc. Anh em thông hiểu dần dần. Vì chúng tôi ra mặt quá nhiều, nên mấy thằng tay sai của chủ trà trộn trong công nhân đã biết rõ gốc tích các đồng chí trong chi bộ và Nghiệp đoàn. Do thiếu kinh nghiệm mà sau này chúng tôi đã bị địch gây cho một số tổn thất. 

Bọn địch bắt đầu huy động lực lượng đối phó từ chiều mùng năm Tết. Chiều hôm ấy, hai chiếc máy bay bà già vè về lượn mấy tiếng đồng hồ trên không phận Phú Riềng, vừa để dò xét tình hình vừa để ra oai với chúng tôi. 

Ngày hôm sau, Công sứ Biên Hòa Mác-tỉ, Phó công sứ Vin-mông, Thống đốc Nam Kỳ Cơ-rô-hây-me và Chánh mật thám Đông-dương Ác-nu đi xe bọc sắt cùng hai mươi xe ca-mi-ông chở ba trăm lính lê dương và năm trăm lính khố đỏ kéo lên Phú Riềng. 

Cách địa phận đồn điền vài cây số, chúng xuống xe dàn quân, súng lăm lăm, chia mấy ngả ập vào. Bọn đế quốc quyết tâm tiêu diệt toàn bộ, khi chúng tôi có hành động phản kháng. Nhưng chúng đã bị “nhỡ tầu”. Đi đến đâu, chúng chỉ thấy công nhân sinh hoạt bình thường. Anh em rủ nhau xếp hàng, ngồi trật tự nghe đại biểu của mình đấu lý với bọn chủ. 

Tên Thống đốc Cơ-rô-hây-me quát chúng tôi: 

  •  

    • Tại sao các quan lớn phải mang lính, mang súng lên đây làm gì, chúng mày có biết không? 

Đồng chí Hồng, bấy giờ là đại biểu công khai, đứng ra đáp: 

  •  

    • Chúng tôi không được biết! 

  •  

    • Các quan phải mang lính lên vì chúng mày làm loạn! 

  •  

    • Đâu có! Chúng tôi làm loạn bao giờ? 

  •  

    • Chủ hãng bảo rằng chúng mày đánh ông đồn, đánh lính cướp súng? 

  •  

    • Chủ hãng nói không đúng! Chính ông ta sai người đánh đập chúng tôi. Chết nhiều lắm. Chúng tôi kêu Nhà nước soi xét, bảo chủ hãng đừng đánh đập chúng tôi, đừng cúp lương chúng tôi. Làm như vậy chúng tôi khổ lắm! 

  • Chúng mày kêu cứ kêu, sao lại dám ở nhà không đi làm?  

  •  

    • Chúng tôi kêu mãi rồi, ông chủ không nghe. Chúng tôi đói mệt quá không ra săng-chi-ê được! 

Thằng Chánh mật thám Ác-nu sừng sợ hỏi: 

  •  

    • Chỉ láo! Thế tại sao chúng mày cướp súng các quan? 

  •  

    • Đâu có! Các ông lính chẳng hiểu sợ cái gì, quẳng súng lại rồi bỏ đi đấy chứ. Súng vẫn dựng kia kìa! 

Chúng tôi chỉ mấy khẩu súng xếp dãy ở chân tường. Bọn thực dân chẳng hiểu ra làm sao. Chúng mang binh hùng tướng mạnh lên Phú Riềng những tưởng đem thép cứng chọi đá rắn. Không ngờ vấp phải bị bông. Chẳng có chứng cứ gì để tàn sát anh em công nhân, chúng đâm ra lúng túng rồi loay hoay bàn bạc với nhau. Cuối cùng, mấy tên đế quốc đành phải nhờ thông ngôn nói với chúng tôi: 

  •  

    • Quan lớn bảo chúng mày về làng. Mai sớm đi làm tử tế, chủ sẽ đối đãi tốt. 

Anh em giải tán rất trật tự. Thừa lúc ấy, bọn tay chân trà trộn trong công nhân chỉ mặt cho Ác-nu bắt một số anh em. Giặc đưa anh em lên xe, toan giải đi. Thế là năm nghìn công nhân quây ngay lại, bám vào thành ca-mi-ông, giành nhau với bọn lê-dương để giữ người của mình. Anh em nói: 

  •  

    • Quan lớn vừa bảo quan lớn tốt, đâu cứ về đó. Thế mà bây giờ quan lớn lại bắt người chúng tôi. Muốn bắt thì bắt cả mấy nghìn anh em. Chúng tôi đi tù hết! 

4
Di tích nhà chủ nhất tại xã Thuận Lợi, TP Đồng Nai ngày nay

Anh em đấu tranh ôn hòa nhưng rất găng. Cuối cùng, chúng phải thả anh em bị bắt. 

Số lính lê-dương và khố đỏ sau đấy phải rút khỏi đồn điền, vì chúng tôi đã bí mật tháo cánh quạt máy bơm. Không có nước dùng cho số đông quân nên chúng phải rút ra Biên Hòa rồi về Sài Gòn. Bọn lính ở đồn Phú Riềng được tăng cường thêm một trung đội. Bọn Tây rút quân, nhưng đã bí mật cài lại nhiều mật thám. 

Sau đó, bọn chủ đồn điền lấy cớ số gạo ở kho còn ít, chỉ phát cho những người có công lao động mà thôi. Chúng định dùng “hình phạt đói” để phá cuộc bãi công, buộc công nhân phải đi làm. Nhưng nhờ số gạo chuyển ra rừng từ trước, công nhân vẫn ở làng như thường và cuộc bãi công vẫn tiếp tục. 

Ngay sau đấy, vì kinh nghiệm hoạt động bí mật còn non, vì say sưa trong ngày nổ ra đấu tranh, đa số các đồng chí trong chi bộ và Ban Chấp hành Nghiệp đoàn đều bị lộ. Quần chúng thì chưa được huấn luyện kỹ về công tác bí mật, nên bọn mật thám đã dò ra dấu tích của bọn tôi. Bọn chủ nắm được đầu não của cuộc bãi công, muốn phá phải đánh vào đấy. Chúng mượn hết cớ này đến cớ khác để bắt dần các đồng chí của ta. Lần lượt các đồng chí Tạ, Hồng, Hòa... bị rơi vào tay giặc trong những tình huống khác nhau. Sau đó đến lượt tôi bị chúng tóm được khi đang tuyên truyền mấy anh lính người Thượng. Trong túi tôi lúc ấy còn cả truyền đơn in cờ búa liềm. Bằng đủ mọi mánh khoé, chúng dò ra được cả cơ quan in ở ngoài rừng và thu được một ít giấy, mực và khuôn thạch. Sau đó, chúng bắt tiếp hàng trăm anh em khác. 

Song song với việc trấn áp, bắt bớ cán bộ và quần chúng tích cực của phong trào, bọn chủ cũng phải nhượng bộ một số yêu sách đã ký. Chúng phát gạo tốt, cải tổ một số điều kiện chữa bệnh ở trạm xá và hứa sẽ cho những người mãn công-tờ-ra được về quê quán... Một số yêu sách của chúng tôi như vậy là đã được thực hiện. 

Đến đây cuộc đấu tranh tạm kết thúc. Cuộc đấu tranh này đã xiết chặt thêm hàng ngũ của anh em công nhân đồn điền Phú Riềng và rèn luyện thêm kinh nghiệm đấu tranh hợp pháp, bán hợp pháp và hoạt động bí mật cho những người còn lại. 

Truyền thống đấu tranh còn tiếp tục được phát huy ở Phú Riềng. Đấu tranh thắng lợi đã tăng thêm lòng tin tưởng cho anh chị em. Thay vào chỗ một số đồng chí phụ trách đã bị giặc bắt, công nhân Phú Riềng lại bầu ra một ban lãnh đạo mới. Tới tháng 5 năm ấy, nghĩa là chỉ sau hơn ba tháng, Phú Riềng lại nổ tiếp một cuộc đấu tranh mới, không kém phần quy mô, quyết liệt so với cuộc đấu tranh đầu tiên hồi tháng 2.

Tác giả: Lê Sỹ Thanh

Chia sẻ

Những tin cũ hơn

Về việc niêm yết công khai hồ sơ và lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, các cơ quan đơn vị, ban ngành đoàn thể xã Thuận Lợi đối với 03 hồ sơ dự thảo Điều chỉnh cục bộ quy hoạch, gồm: (1) Điều chỉnh cục bộ Quy hoạch Nông thôn mới xã Thuận Lợi (cũ);

Thời gian đăng: 27/10/2026

lượt xem: 20 | lượt tải:10

Về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (Nguyễn Thị Thanh)

Thời gian đăng: 21/10/2026

lượt xem: 44 | lượt tải:27

Về việc niêm yết danh sách rà soát hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mức sống trung bình Đợt 5 năm 2026 trên địa bàn xã Thuận Lợi

Thời gian đăng: 19/10/2026

lượt xem: 47 | lượt tải:50
[Infographic] Tiểu sử tóm tắt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

[Infographic] Tiểu sử tóm tắt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

[Infographic] Tiểu sử tóm tắt Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng

[Infographic] Tiểu sử tóm tắt Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng

Thống kê truy cập

Hôm nay

16,301

Tổng lượt truy cập

3,578,481
Thăm dò ý kiến
Đánh giá về Trang tin điện tử xã Thuận Lợi
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây